Để sản xuất nông nghiệp không còn phải "giải cứu"

2018-03-28 16:32:40

Những ngày vừa qua câu chuyện về hàng nghìn tấn củ cải cần “giải cứu” của người nông dân Tráng Việt (Mê Linh - Vĩnh Phúc) đang là tâm điểm chú ý của dư luận. Tuy nhiên, những năm gần đây câu chuyện “giải cứu” dường như đã trở nên quen thuộc với nông sản Việt.

1. Những cuộc khủng hoảng thừa nông sản năm 2017

Đầu năm 2017, người dân cả nước đã chung tay giải cứu dưa hấu cho người dân trồng dưa tỉnh Quảng Nam. Do thời tiết mưa nắng thất thường lầm dưa nứt toác, số còn lại dù đạt chất lượng tốt nhưng lại không tìm được nới tiêu thụ, dưa hấu bị ép giá kịch sàn, có thời điểm chỉ còn 1.500 đồng/kg. Khi gười nông dân phải cắn răng chịu đựng nhìn dưa hấu phải vứt đi thì những câu lạc bộ giải cứ dưa hấu trên khắp cả nước đã diễn ra. Với khẩu hiệu “một trái dưa một tấm lòng” đã được lan tỏa đến đông đảo người dân cả nước giải cứ được 2.000 tấn dưa.

Sinh viên "giải cứu" dưa hấu cho bà con nông dân tỉnh Quảng Ngãi - Ảnh: Internet

Tiếp theo sau dưa hấu, tháng 4/2017, giá chuối ở Đồng Nai từ 15.000đông/kg giảm xuống còn 1.000 – 1.500 đồng/kg chỉ bằng 1/10 giá cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là từ đầu năm 2015 đến đầu năm 2016 giá thu mua chuối sang thị trường Trung Quốc đã tăng gấp 3 lần. Việc này khiến diện tích chuối già hương tăng gần 1 gấp 3 trong một năm. Đầu năm 2017 Trung Quốc quay lại nhập khẩu chuối từ Philipin khiến hàng ngàn tấn chuối tại Đồng Nai rơi vào cảnh khốn đốn không có đầu ra. Nhiều ban ngành, tổ chức, các địa phương lân cận đã tổ chức chiến dịch “ giải cứu chuối ” giúp người dân Đồng Nai. Sau đó, giá chuối có lúc nhích lên 7.000 đồng/kg.

Đến tháng 5/2017 cả nước lại tiếp tục câu chuyện lợn bị rớt giá kỷ lục. Từ tháng 9/2016 giá lợn từ 46.000 đồng/kg giảm xuống còn 30.000 đồng vào tháng 1/2018 và đỉnh điểm vào tháng 4 năm 2018 xuống kỷ lục còn 15.000  – 17.000 đồng/kg. Khi đó cả nước còn khoảng 30 triệu con lợn cần tiêu thụ.

Đầu năm 2018,  người nông dân trồng ly Tây Tựu lại rơi vào thảm cảnh chưa từng có, khi sau Tết, giá hoa ly "tụt dốc không phanh", từ 35.000 - 80.000 đồng/cành xuống 2.000 -10.000 đồng/cành. Thời điểm trước ngày 30 Tết, hoa ly có giá từ 300.000 - 700.000 đồng/bó 10 cành tùy loại hoa và số lượng tai trên từng cành. Bán lẻ, ly có giá từ 35.000 - 80.000 đồng/cành. Tuy nhiên, kể từ ngày mồng 5 Tết, người Hà Nội ngỡ ngàng vì ly rẻ bất ngờ. Hoa rẻ nhưng bán lại không đắt hàng. Thậm chí, nhiều gia đình trồng hoa chấp nhận, nuốt nước mắt để hoa nở rộ tại vườn không cắt bán vì ế chẳng ai mua.

Trong những ngày gần đây, chúng ta lại chứng kiến nông dân xã Tráng Việt (Mê Linh - Hà Nội) phải đổ bỏ hàng nghìn tấn củ cải.  Chuyện củ cải, su hào trồng ra thừa mứa, giảm giá thảm hại đến mức nông dân không bõ công thu hoạch để bán, hoặc phải kêu gọi sự giải cứu được báo chí phản ánh dày đặc.

 "Giải cứu" củ cải cho bà con nông dân tại điểm bán CV Thống Nhất. Ảnh: Internet

2.  Nguyên nhân khủng hoảng thừa nông sản

Hầu như năm nào chúng ta cũng có các cuộc giải cứu. Vậy nguyên nhân dẫn tới "điệp khúc" được mùa mất giá là gì?

Thứ nhất: Nguyên nhân được đưa ra đầu tiên trong những cuộc giải cứu nông sản là do nguồn cung vượt quá cầu, trong bối cảnh nền nông nghiệp thiếu quy hoạch. Từ trước tới nay, nền sản xuất nông nghiệp ở nước ta manh mún, nhỏ lẻ và tự phát. Người nông dân chỉ cần nghe trồng cây gì được giá là đổ xô nhau đi trồng, rớt giá thì chặt phá, vứt bỏ chuyển sang cây con khác mà không cần biết đầu ra như thế nào cũng như khuyến cáo của các cơ quan chức năng. Cái quy luật thị trường đơn giản nhất là cung mà vượt cầu thì giá sẽ rớt thê thảm, mà hàng chục năm qua người dân dường như mãi không chịu nhớ.

Thứ 2: Công tác bảo quản, chế biến đa dạng hóa các sản phẩm sau thu hoạch của nước ta còn yếu. Do ứng dụng công nghệ sau thu hoạch yếu nên dẫn đến tình trạng khi dư thừa nông sản người dân không thể chuyển sang chế biến, bảo quản hoặc bảo quản sơ sài theo phương pháp truyền thống như thu hoạch xong phơi khô đựng vào bao chứa trong nhà. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều loại nông sản “được mùa - mất giá”, người dân bán ồ ạt, giá nào cũng bán khiến cho nông dân rơi vào cảnh lao đao. Nếu người dân có thể liên kết với doanh nghiệp để chế biến nông sản sau thu hoạch thì có lẽ nông sản không phải đổ bỏ như những ngày qua.

Thứ 3: Sự liên kết khép kín chuỗi cung ứng của chúng ta rất yếu. Một câu chuyện được nhắc đi nhắc lại nhiều năm qua là đa số nông dân vẫn còn đơn độc trong sản xuất. Việc hàng nông sản bán rẻ như cho tại ruộng nhưng qua tay thương lái và nhiều đầu cầu, đến tay người tiêu dùng giá lại tăng vọt là một bất cập. Nguyên nhân của những bất cập ấy chính là vấn đề tổ chức các kênh phân phối hàng nông sản chưa tốt. Nông sản từ ruộng tới chợ hoặc siêu thị hiện nay phải qua quá nhiều kênh trung gian, người dân vì thế thường bị ép giá ở mức thấp nhất, lợi ích thuộc về nhà buôn, thương lái.

Mối liên kết giữa doanh nghiệp thu mua nông sản và nông dân chưa được chú trọng nhiều. Các bên thường đơn phương phá vỡ hợp đồng mỗi khi có biến động giá trên thị trường. Nông dân phần lớn chưa quen với việc sản xuất theo hợp đồng, khi thấy thương lái đưa giá cao hơn các doanh nghiệp liền phá vỡ hợp đồng, đến khi thương lái không thu mua nữa thì lại quay lại với doanh nghiệp. Người dân chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt mà chưa thấy được lợi ích lâu dài về sản xuất, tiêu thụ ổn định. Do tập quán làm ăn manh mún, tự phát nên chất lượng sản phẩm không cao. Điều này cũng khiến các doanh nghiệp thiếu mặn mà thu mua. Về phía các siêu thị lại thường tiêu thụ hàng hóa theo chuỗi nên nông dân khó đưa được hàng vào đây.

Thứ 4: Chúng ta còn hạn chế về mặt xuất khẩu. Nông sản Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu tiểu nghạch mà thị trường chính là Trung Quốc. Tuy Trung Quốc chiếm thị phần lớn về xuất khẩu nông sản của Việt Nam nhưng giá xuất khẩu nông sản nước ta sang Trung Quốc đa phần thấp hơn nhiều thị trường khác, thiếu bền vững và khả năng bị ép khá giá cao. Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc bấp bênh là do chủ yếu bằng đường tiểu ngạch không có hợp đồng, tình trạng hàng hóa ùn ứ tại các cửa khẩu vẫn thường xuyên xảy ra…

Hàng nghìn xe chở dưa hấu và nông sản khác ùn ứ tại cửa khẩu Tân Thanh. Ảnh: Internet

Thứ 5: Chúng ta chưa quan tâm đến thị trường nội địa. Một thực tế hiện nay là đa số người Việt Nam lại chưa được mua những nông sản ngon do nông dân Việt sản xuất. Thị trường trong nước có hơn 90 triệu dân, nông sản rất cần cho những người tiêu dùng này. Việt Nam cần làm tốt khâu phân phối trong nước trước, để người tiêu dùng trong nước được mua nông sản với giá hợp lý thay vì dồn vào xuất khẩu. Chúng ta sản xuất nông sản xuất khẩu chủ yếu qua đường tiểu ngạch sang thị trường Trung Quốc nhiều rủi ro nhưng chúng ta lại nhập nông sản của nước này về phân phối thị trường trong nước. Và điều quan trọng nữa là chúng ta chỉ chú ý chất lượng nông sản xuất khẩu chứ chưa chú trọng đến chất lượng nông sản tiêu thụ trong nước.

3. Một số giải pháp cho người nông dân

Để chấm dứt tình trạng “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” của nông sản là được mùa mất giá mà được giá thì mất mùa thì không phải ngày một ngày hai là giải quyết được. Đó là vấn đề lâu dài cần sự liên kết, giải quyết đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Trong đó, người nông dân phải là người đầu tiên thay đổi để tìm hướng phát triển bền vũng cho chính sản phẩm của mình tạo ra.

Bà con nông dân nên chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún sang cùng liên kết lại với nhau thành tổ đội sản xuất như tổ hợp tác, hợp tác xã. Tham gia HTX sẽ tăng giá trị hàng hóa nông nghiệp xuất khẩu nhờ hàng hóa có xuất xứ, có thương hiệu, dễ dàng ký kết với các doanh nghiệp sản xuất theo hợp đồng tiêu thụ, Nhà nước thuận lợi hỗ trợ vốn, khoa học - công nghệ, tiếp thị ra thị trường, đào tạo nhân lực, xây dựng thương hiệu, đồng thời bảo vệ quyền lợi của nông dân, vừa tham gia tư vấn quy trình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao…

Người nông dân cần phải có trách nhiệm  khi thực hiện chuỗi liên kết, ký hợp đồng liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm nông sản với doanh nghiệp. Tránh tình trạng khi nông sản được giá, nông dân đã tự bán sản phẩm ra thị trường tự do với giá cao hơn giá hợp đồng với doanh nghiệp.

Nâng cao ý thức sản xuất nông nghiệp theo hướng an toàn, hữu cơ, tránh tình trạng sản xuất an toàn theo kiểu đối phó. Tập trung đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp áp dụng khoa học kỹ thuật, tăng cường sử dụng chỉ dẫn địa lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo các tiêu chuẩn sản xuất nhất định như VietGAP.

Đối với các vùng sản xuất lớn, chuyên canh cần có xưởng chế biến, dự trữ và kho lạnh bảo quản rau màu sau thu hoạch. 

- Bà con cần chủ động, kịp thời nắm bắt những thông tin, phân tích và định hướng thị trường của nhà nước để chủ động ra quyết định  “trồng cây gì, nuôi con gì? trồng thế nào, nuôi ra sao?" cho hiệu quả.

Ở những vùng địa lý khác có những lợi thế về cây trồng hay vật nuôi đặc sản, sự khác biệt về địa lý khí hậu và môi trường còn tương đối sạch thì nên đẩy mạnh sản xuất, phát triển nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp tự nhiên.

Đa dạng hóa sản phẩm sản xuất nông nghiệp, không nên độc canh một loại cây trồng dẫn đến khi rớt giá thì người nông dân mất trắng. Việc đa dạng hóa các loại cây trồng trên cùng diện tích sẽ giúp nông dân đa dạng nguồn thu nhập. Mô hình đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi này là một điều rất cần thiết đối với vùng Tây Nguyên và Nam Bộ.

Mô hình trồng xen canh cà phê và bơ đang mang lại hiệu quả cao tại Đăk Lăk - Ảnh: Internet

Nếu làm tốt những khâu trên thì sản phẩm nông sản của chúng ta sẽ lấy lại được niềm tin của thị trường nội địa và mở rộng thị trường suất khẩu, chúng ta sẽ không còn phải “giải cứu” nông sản.

Theo phân tích của chuyên gia Agritech

Xem thêm