CS-Kỹ thuật trồng bông vải năng suất cao

2018-01-26 14:47:37

I. CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY BÔNG

Hiện nay, giống bông vải đang được trồng phổ biến trong sản xuất đều là giống có dạng cành vô hạn, tức là cây bông ra nụ, hoa, quả từ cành dưới lên cành trên và từ trong ra ngoài .

Quá trình sinh trưởng và phát triển từ khi gieo hạt đến bắt đầu có quả nở khoảng 95 - 125 ngày và đến tận thu khoảng 140 - 170 ngày, được chia thành năm giai đoạn:

1. Giai đoạn nẩy mầm (từ khi nẩy mầm đến xòe hai lá mầm)

Giai đoạn này thường kéo dài từ 4 đến 7 ngày và cần có đủ nước, nhiệt độ và oxy thích hợp để mầm mọc khỏe.

2. Giai đoạn cây con (từ khi xòe hai lá mầm đến khi có nụ) 

Giai đoạn này thường kéo dài 24 - 36 ngày tùy từng giống, điều kiện thời tiết khí hậu và chăm sóc. Giai đoạn này rễ cây  được ưu tiên phát triển. Cây bông còn nhỏ nên rất mẫn cảm với tác động của mọi điều kiện ngoại cảnh, nếu bất lợi sẽ làm cho cây bông sinh trưởng không bình thường, năng suất thấp và phẩm chất xơ kém. Để cây sinh trưởng tốt cần phải đủ nước, oxy và dinh dưỡng trong đất.

Các biện pháp cần chú ý trong giai đoạn này là:

- Tỉa định cây sớm.

- Làm cỏ, xới xáo, bón phân cân đối.

- Đủ nước nhưng không để cây bông bị úng.

 3. Giai đoạn nụ (từ khi nụ đầu tiến đến nở hoa đầu tiên)

Khi cây có 4 - 8 lá thật thì xuất hiện nụ đầu tiên. Nụ bông do mầm hoa phân hóa từ mầm hỗn hợp mà thành. Giai đoạn này kéo dài khoảng 20-25 ngày.

Cây bông cùng một lúc vừa ra cành  lá, vừa ra hoa, quả và luôn được tiếp diễn. Khi cây còn non, ra rễ, thân, lá được gọi là thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng. Khi có nụ đến khi nở quả vừa sinh trưởng dinh dưỡng vừa sinh trưởng sinh thực chồng chéo lên nhau.

Quan hệ giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực là quan hệ thúc đẩy lẫn nhau. Sinh trưởng dinh dưỡng cung cấp cơ sở vật chất cần thiết cho sinh trưởng sinh thực, nếu sinh trưởng dinh dưỡng kém sẽ làm cây còi cọc, cho năng suất thấp. Ngược lại, nếu sinh trưởng dinh dưỡng quá mạnh, dinh dưỡng được tiêu phí cho phát triển thân, lá, cành quá nhiều, cây bông bị “bốc lá” dẫn đến nụ, hoa, quả non rụng nhiều. Vì vậy đối với cây bông trong giai đoạn này rất quan trọng, phải điều khiển kỹ thuật canh tác thật tốt để cây sinh trưởng cân đối, cho hoa, quản nhiều đạt năng suất cao, phẩm chất tốt.

4. Giai đoạn hoa nở (từ hoa nở đầu tiên đến quả đầu tiên chín)    

Giai đoạn này khoảng 42 – 55 ngày ,từ nở hoa đến hình thành qủa.

- Nở hoa và thụ phấn: Hoa bông thường nở từ 7-9 giờ sáng. Tràng hoa bung ra, bao phấn nứt vãi hạt phấn ra xung quanh và bắt đầu có sự thụ phấn. Nhiệt độ cao hoa nở sớm, nhiệt độ thấp hoa nở muộn.

- Trình tự nở hoa: Hoa nở theo trình tự từ dưới lên  trên mất khoảng 2-3 ngày và từ trong ra ngoài mất khoảng 5-7 ngày.

- Hình thành quả: Thụ phấn tốt thì đậu quả tốt, không đậu quả thì hoa rụng. Đến ngày thứ 10 từ khi hoa nở nếu quả non không rụng thì được coi là quả đã đậu.

5. Giai đoạn quả nở

Khi quả già thành thục hoàn toàn, vỏ quả mất nước co lại và tách ra thành 4-5 mảnh. Múi bông bị phơi ra nhưng còn dính vào vỏ quả, xơ bông khô đi và nở bồng lên, lúc này ta có thể thu hái phơi 1-2 nắng và đóng bao.

II. NHỮNG YÊU CẦU VỀ NGOẠI CẢNH CỦA CÂY BÔNG

1. Nhiệt độ

    Cây bông có nguồn gốc nhiệt đới, nên đòi hỏi cao về nhiệt. Nhiệt độ tối ưu cho bông nẩy mầm, sinh trưởng và phát triển là 25-30oC , nhiệt độ dưới 25oC sự phát triển của cây bị chậm lại và nhiệt độ 37-40oC cây ngừng phát triển. Để hoàn thành quá trình sinh trưởng, phát triển từ khi mọc đến khi có quả nở cây bông cần một lượng nhiệt hữu hiệu khoảng 1450 - 1650oC. 

 2. Ánh sáng

Bông vải là cây trồng ưa ánh sáng, lá bông luôn thay đổi góc độ để phiến lá luôn nhận được nhiều ánh sáng mặt trời nhất. Trời âm u, nhiều mây, mưa làm cho bông phát triển chậm, yếu, rụng nụ, quả non.

Thời gian chiếu sáng trong ngày cũng ảnh hưởng đến phát triển, cây bông đòi hỏi đêm dài ngày ngắn. Trong điều kiện dài ngày cây phát triển chậm, chậm hình thành nụ hoa, ngược lại thời gian chiếu sáng nhiều, cây bông phát triển nhanh hơn và sớm ra nụ, nở hoa. Đặc tính này giúp cho chúng ta bố trí thời vụ cho từng vụ, từng nơi một cách hợp lý.

3. Nước

 Cây bông có bộ rễ khá phát triển nên chịu hạn rất tốt, nhưng để đảm bảo năng suất cao, phẩm chất xơ tốt thì còn có chế độ nước thích hợp.

Giai đoạn nảy mầm độ ẩm đất thích hợp là 70 - 80 %.

Giai đoạn cây con cây bông cần ít nước: 10 – 12m3/ha, độ ẩm đất  thích hợp là 55 - 65 % .

Giai đoạn nụ : 30 – 35m3/ha ,độ ẩm đất thích hợp là 60 - 70 % .

Giai đoạn hoa nở: 90 – 150m3/ha ,độ ẩm đất thích hợp là 70 - 80 % .

Giai đoạn quả lại cần rất ít: 30 – 35m3/ha ,độ ẩm đất thích hợp là 65 % .

Cả vụ cây bông cần khoảng 4.000 – 5000 m3/ha. Những vùng có lượng mưa trên 1.000 mm và đều có thể trồng bông không cần tưới.

Đối với cây bông tỉ lệ rụng nụ, đài thường cao, làm giảm năng suất, vì vậy phải tìm cách hạn chế, chú ý cung cấp đủ nước, phân bón cân đối, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, chăm sóc đúng theo quy trình kỹ thuật.

III. MỘT SỐ  GIỐNG BÔNG VẢI ĐANG TRỒNG PHỔ BIẾN TRONG SẢN XUẤT HIỆN NAY

1. Giống L18

- Thời gian sinh trưởng trung bình 100 – 115 ngày.

- Ra hoa , đậu quả tập trung, quả to 4,5 - 5 g, năng suất cao.

- Tỷ lệ xơ 38-39%, chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn cấp 1.

- Thích nghi rộng, chịu thâm canh, kháng rầy xanh yếu, ít nhiễm bệnh giác ban và nấm trắng cuối vụ.

2. Giống VN20

- Thời gian sinh trưởng trung bình 100 – 115 ngày.

- Ra hoa, đậu quả tập trung, quả to trung bình  3,8 - 4,2 g.

- Tỷ lệ xơ 37-38%, chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn cấp 1.

- Giống ổn định, thích nghi rộng, thích hợp đầu tư thâm canh cao, kháng rầy trung bình. Ít nhiễm bệnh giác ban và nấm trắng cuối vụ.

3. Giống VN35

- Thời gian sinh trưởng trung bình 100 – 115 ngày.

- Cây sinh trưởng khoẻ , có 2-3 cành đực.

-  là giống chín trung bình , dạng hình cân đối.

- Qủa nặng 5,0 - 5,5 g,năng suất cao 30 -35 tạ/ha.

- Tỷ lệ xơ 37-38%, chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn cấp 1.

- Giống ổn định, thích nghi rộng, chịu hạn tốt, tái sinh phục hồi năng suất cao, kháng rầy cao, ít nhiễm bệnh giác ban, xanh lùn, nhưng nhiễm bệnh nấm trắng cuối vụ.

4. Giống NH38

- Thời gian sinh trưởng trung bình 100 - 115 ngày .

- Dạng cây gọn, cành ngắn, quả to, ra hoa và đậu quả tập trung.

- Tỷ lệ xơ 36-37%, chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn cấp 1.

- Giống ổn định, thích nghi rộng, có khả năng trồng dầy tăng mật độ, thích hợp với đầu tư thâm canh, kháng rầy trung bình, ít nhiễm bệnh giác ban, xanh lùn và nấm trắng cuối vụ.

 5. Giống VN15

-  Thời gian sinh trưởng trung bình 100 –115 ngày.

-  Là giống chín trung bình ,dạng hình cân đối , có 2 - 3 cành đực .

-  Ra hoa và đậu quả tập trung, quả to trung bình  4,5 – 5,0 g.

-  Năng suất cao 30 - 35 tạ/ha .

- Tỷ lệ xơ 36-37%, chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn cấp 1.

- Giống ổn định, thích nghi rộng, kháng rầy trung bình, kháng sâu miệng nhai vì vậy rất thích hợp cho các vùng có áp lực sâu xanh cao.

6. Giống GL03

- Thời gian sinh trưởng trung bình 100 - 115 ngày.

 - Ra hoa, đậu qủa tập trung, qủa nặng 5,6 - 6,5 g.

- Tỉ lệ xơ 36 - 37 % ,chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn cấp 1.

- Giống ổn định,thích nghi rộng, kháng rầy trung bình, kháng sâu miệng nhai, vì vậy rất thích hợp cho các vùng có áp lực sâu xanh cao .

7. Giống VN01-2

- Thời gian sinh trưởng trung bình 100 - 115 ngày.

-  Ra hoa và đậu qủa tập trung, qủa nặng trung bình 4 - 4,5 g.

-  Tỷ lệ xơ 38 - 39 %,chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn cấp 1.

-  Giống ổn định ,thích nghi rộng, kháng rầy tốt, kháng sâu miệng nhai, thích hợp cho các vùng thâm canh có áp lực sâu xanh cao.

IV. KỸTHUẬT TRỒNG BÔNGVẢI NĂNG SUẤTCAO:

1. Chọn đất trồng bông

Hầu hết các loại đất thích hợp cho cây trồng cạn đều có thể trồng bông vải, tuy nhiên để đạt năng suất cao, hiệu qủa kinh tế lớn cần chọn đất tốt, giàu dinh dưỡng, tơi xốp, thoát nước, giữ ẩm, ít chua ( pH  > 5 ) và có độ mặn thấp  < 0,4% .

 Đối với vùng Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Duyên Hải Miền Trung cần chọn các loại đất Bazan nâu đỏ, Bazan nâu đen, đất đen, đất xám và đất phù sa không được bồi hàng năm. Bông vải là cây chịu hạn, rất sợ bị úng vì vậy khi trồng cần chọn đất cao ráo, dễ tiêu nước khi bị úng.

Đồng bằng sông Cửu Long nên chọn đất phù sa ven sông Tiền, sông Hậu, vùng đất thịt pha cát gò cao. Những vùng trũng, thấp cần phải lên liếp cao hơn mực nước ngập hàng năm ít nhất từ 30-50cm.     

2. Thời vụ trồng bông

Thông thường bông vải ở nước ta có hai thời vụ trồng đó là vụ khô (còn gọi là vụ Đông xuân) và vụ mưa (còn gọi là vụ mùa). Tuy nhiên mỗi vùng có điều kiện khí hậu, đất đai khác nhau, nên thời vụ trồng cũng khác nhau.

 Đồng bằng sông Cửu Long:

-Vụ khô: Gieo trong tháng 10 đến 11 dương lịch. 

-Vụ mưa: Gieo trong tháng 8 dương lịch trên vùng đất gò cao.

3. Làm đất trước khi gieo

- Đất trồng bông trước khi cày, bừa làm đất cần phải dọn sạch cỏ dại. Dùng cày máy hoặc trâu bò cày sâu, bừa kỹ đảm bảo 50% cục đất nhỏ hơn 3-6cm. Sau đó rạch hàng sâu 7 - 10 cm theo khoảng cách quy định để bón phân lót và gieo hạt bông.

- Vùng đất trũng dễ bị ngập khi mưa thì phải lên luống, lên líp.

- Với những chân đất cây trồng trước chưa thu hoạch mà đã đến thời vụ gieo bông thì cần tổ chức gieo gối vụ vào cây trồng trước, có thể rạch hàng hoặc bổ hốc theo khoảng cách qui định.

- Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long  đất lúa sau khi cắt bỏ gốc rạ, đào rãnh để thoát nước theo băng 3 - 5 m. Không cần làm đất, chỉ cần chọc lỗ gieo hàng ngang theo khoảng cách quy định. Lỗ chọc sâu 2 - 3 cm, gieo hạt và lấp đất nhỏ hoặc phân hữu cơ vi sinh.

- Để diệt cỏ một cách hữu hiệu &n