NT-KỸ THUẬT NUÔI CÁ MÚ ĐEN - CÁ MÚ TRÂN CHÂU HIỆU QUẢ KINH TẾ CAO

2018-01-15 15:31:44

KỸ THUẬT NUÔI CÁ MÚ ĐEN - CÁ MÚ TRÂN CHÂU HIỆU QUẢ KINH TẾ CAO

I. Đặc điểm sinh học

1. Phân loại, phân bố

Bộ cá vược (Perriciformes)

   Họ cá mú (Serrannidae)

     Giống cá mú Epinephelus

Cá mú (còn gọi là cá song), cá mú thuộc loại cá biển, có giá trị kinh tế cao. Chúng phân bố nhiều nhất ở các nước Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Malaisia, Singapore, Philippines, Thái Lan, Việt Nam…

Ở nước ta có trên 30 loại cá mú, trong đó 7 loài có giá trị kinh tế cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu: cá mú vạch (E. brunneus)), cá mú chấm tổ ong (E. merra), cá mú chấm đỏ (Epinephelus akaara), cá mú hoa nâu (E. fuscoguttatus), cá mú cáo (E. megachir), cá mú đen (E. heeberi), cá mú mỡ (E. tauvina).    

2. Môi trường sống

Cá mú thích sống ở các hốc đá, vùng ven bờ quanh các đảo có đá san hô, nơi có độ sâu từ 10-30m. Cá thích hợp ở nhiệt độ từ 22-28oC, cá bắt đầu bỏ ăn; ở mức 15oC, cá hầu như không hoạt động. Cá mú chịu được độ mặn trong giới hạn          11-14‰.  

3. Tính ăn

Cá mú thuộc nhóm cá dữ, thức ăn thiên về động vật, có tập tính rình bắt mồi ở nơi yên tĩnh. Cá mú có tính tranh giành thức ăn dữ dội. Khi thiếu thức ăn, chúng có thể ăn thịt lẫn nhau.

Cá con mới nở ăn động vật phù du. Khi lớn lên, cá ăn các loại cá con, tôm, mực… Cá thích ăn mồi sống, không ăn mồi chết và thức ăn chìm ở đáy. Trong môi trường nuôi nhốt, thường cho cá ăn thức ăn tự chế biến từ các nguồn nguyên liệu có sẵn ở địa phương như: cá tạp, cua, ốc, các phụ phế phẩm…

4. Sinh trưởng

Tốc độ tăng trưởng của cá mú tùy thuộc vào từng loài. Với cá giống cỡ         8-12cm, trung bình nuôi từ 8-10 tháng thì được cá thương phẩm cỡ 500g/con.

5. Sinh sản

Cá mú thành thục lần đầu khi đạt khoảng 3 năm tuổi. Mùa vụ sinh sản của cá mú tùy thuộc vào từng vùng địa lý. Ở phía Bắc nước ta, cá mú sinh sản vào tháng   5-7; ở miền Trung và miền Nam mùa sinh sản rơi vào tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Hệ số thành thục và sức sinh sản của cá mú tùy theo loài.

Cá mú có tập tính chuyển đổi giới tính, cá còn nhỏ dưới 50cm đều là cá cái, khi đạt chiều dài 70cm trở lên thì chuyển thành cá đực.

II. Vận chuyển cá giống

Để giảm thiểu hao hụt và đảm bảo sức khỏe cho cá khi phải vận chuyển đi xa, cần phải biết cách xử lý cá trước khi vận chuyển đồng thời nắm rõ các biện pháp kỹ thuật vận chuyển.

1. Xử lý cá trước khi vận chuyển

Cá mú con đánh bắt ngoài tự nhiên phải được nhốt tạm từ 1-2 tuần trong bể hoặc trong thùng có sục khí liên tục. Hai ngày đầu không cần cho ăn. Từ ngày thứ 3, cho ăn ít và tăng liều lượng lên dần. Sau đó dùng các học lưới với kích cỡ mắt lưới khác nhau để phan loại cá theo các kích cỡ sau đây:

- Cá bột nhỏ: 2,5-5cm

- Cá bột lớn: 5-7,5cm

- Cá giống nhỏ: 7,5-10cm

- Cá giống trung bình: 10-12,5cm

Sau khi phân loại, nên tắm cho cá bằng nước ngọt (từ 15-30 phút) để diệt các vi sinh vật có hại, sau đó mới vận chuyển về nơi ương nuôi. Lưu ý những con bị thương phải được nuôi dưỡng trong bể riêng, khi chúng hồi phục hoàn toàn thì mới vận chuyển về ao ương nuôi.

Với cá ương trong bể, thời điểm thu hoạch cá thích hợp nhất là vào lúc sáng  sớm hoặc chiều mát. Dùng vợt mềm vớt cá cho vào giai hoặc bể nước sạch đã chuẩn bị trước. Thao tác vớt phải nhanh và nhẹ nhàng.

Trước khi vận chuyển, phải nhốt cá trong giai nước sạch với mật độ dày để cho chúng quen dần với diều kiện sống chật hẹp và thải bớt phân. Có thể nhốt từ 8-12 giờ. Lưu ý: trong khoảng thời gian nhốt, không nên cho cá ăn.

2. Kỹ thuật vận chuyển cá

Trong quá trình vận chuyển cá giống, tỷ lệ sống và mức độ an toàn của cá phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật vận chuyển. Trong đó các yếu tố như dụng cụ đựng cá, phương tiện vận chuyển, nhiệt độ thời tiết, lượng oxy hòa tan trong nước, khí độc trong mưa, thời gian vận chuyển…đều ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cá. Áp dụng đúng biện pháp kỹ thuật sẽ giúp nâng cao tỷ lệ sống cho cá.

Phải ngưng cho cá ăn trong 24 giờ trước khi vận chuyển, đồng thời nên tắm cho cá bằng thuốc tím 0,15ppm (từ 5-10 phút) hoặc tắm bằng dung dịch Furacin 0,05% (từ 3-5 phút).

Có hai phương pháp vận chuyển cá: vận chuyển kín và vận chuyển hở.

- Phương pháp vận chuyển kín: vận chuyển cá bằng túi nilon có bơm oxy với áp suất thích hợp.

- Phương pháp vận chuyển hở: vận chuyển cá bằng thùng phuy, thùng tôn, thùng nhựa hoặc sót nilon.

* Phương pháp vận chuyển bằng túi nilon hoặc can nhựa được xem là phương pháp tiên tiến cho hiệu quả cao, vì vậy mà được rất nhiều người áp dụng.

* Phương pháp vận chuyển kín: Thường chứa cá trong túi nilon có bơm oxy rồi vận chuyển bằng các phương tiện như xe ô tô, máy kéo, ba gác máy, ghe, thuyền…

* Đóng túi: Dùng hai túi nilon có đáy bằng, cho vào khoảng 8 lít nước biển, nước được làm lạnh ở nhiệt độ 23-250C. Nếu vận chuyển trong thời gian dưới 8 tiếng thì nên cho lượng nước chiếm 4/5 túi. Nếu vận chuyển trong thời gian trên 8 tiếng thì nên cho lượng nước chiếm 2/3 túi. Vuốt hết không khí trong túi ra, bơm oxy vào, sau đó cho cá vào, tiếp tục bơm oxy vào đến khi căng túi, buộc túi lại. Cho túi cá vào thùng xốp, đặt các bao đá xung quanh để làm mát cá. Dán kín thùng xốp bằng băng keo rồi đưa lê phương tiện vận chuyển. Nên vận chuyển cá trên phương tiện có máy điều hòa nhiệt độ.

Mật độ cá trong túi: Mật độ cá trong túi nilon tùy thuộc vào kích cỡ của cá. Cá cỡ 2,5cm, nhốt từ 100-150con/lít nước; cá cỡ 5cm, nhốt từ 30-50con/lít; cá 7cm, nhốt từ 10-15con/lít.

Lưu ý: Nên vận chuyển cá lúc trời mát, tốt nhất là vào sáng sớm. Nếu vận chuyển cá trong mùa nắng thì phải che đậy kỹ càng, không để ánh nắng trực tiếp chiếu vào túi nilon vì có thể làm tăng nhiệt độ nước trong túi và dẫn đến chết cá. Sau 8 tiếng vận chuyển phải bơm oxy. Sau 16 tiếng phải thay nước và bơm oxy. Sau 24 tiếng phải cho cá nghỉ ngơi trong vèo lưới hay trong bể từ 8-12 giờ. Muốn vận chuyển tiếp phải đóng túi lại. Tổng thời gian vận chuyển cá không nên quá 50 giờ. Khi vận chuyển cá đến nơi, thao tác mở thùng phải nhẹ nhàng nhằm tránh làm cá hoảng sợ. Trước khi thả cá, phải cân bằng nhiệt độ và độ mặn nước ao và nước trong túi cá.

III. Kỹ thuật nuôi cá mú thịt

       1. Chuẩn bị ao nuôi

       * Chọn vị trí ao

       Ao nên nằm ở vùng đất sét hay cát pha sét, tránh vùng đất phèn. Mực nước thủy triều ít nhất là 80cm. Phải có ao lắng để xử lý nước thải.

       Ao nằm ở nơi có nhiều ánh sáng mặt trời, không bị bóng cây che khuất. Ao gần nguồn nước, gần nhà để tiện theo dõi và quản lý.

       * Điều kiện ao nuôi

       - Tùy theo từng điều kiện mà chọn ao có diện tích phù hợp, có thể từ 100m2 trở lên. Ao có độ sâu từ 1,5-2m. Độ sâu mực nước ao từ 1,2-1,5m. Bờ ao cao hơn mực nước ao trong năm, khoảng 0,5m để chống ngập.

       - Cống, bọng phải được làm chắc chắn và thuận tiện cho việc cấp, thoát nước. Bờ ao phải đảm bảo không bị sạt lở, rò rỉ. Đáy ao bằng phẳng và dốc về bọng nước. Nếu có điều kiện thì trải bạt xung quanh bờ ao để ngăn cá đào hang. Bọng phải có lưới chắn để không cho cá ra ngoài cũng như không cho địch hại vào ao.

       - Nguồn nước phải gần ao để thuận tiện cho việc cấp nước. Nước phải sạch sẽ, không bị ô nhiễm và phải chủ động suốt quá trình nuôi. Yêu cầu về chất lượng nước: nhiệt độ= 25-32oC, độ mặn= 20-30‰, pH= 7,5-8,5, độ trong = 30-45cm, hàm lượng oxy hòa tan= 4-8mg/L, NH3 ≤0-0,008mg/L, độ kiềm= 60-100mg/L.

       - Thả một số ống tre hoặc ống nhựa (đường kính 10-20cm) vào ao để làm nơi cho cá ẩn nấp nhằm hạn chế cá tấn công lẫn nhau đồng thời giúp việc kiểm tra và thu hoạch cá được đễ dàng.

       * Cải tạo ao

- Tháo nước cạn ao và dọn sạch rác, bắt hết cá tạp và địch hại như: rắn, cua, ếch…Có thể diệt tạp bằng Rotenon (liều lượng 40kg/ha), bánh bã trà (liều lượng 150-200kg/ha). Vét bớt lớp bùn thối lâu ngày ở đáy ao. Tu bổ lại bờ ao, cống rãnh. San lắp các lỗ mọi rò rỉ.

          - Rải vôi bột xuống đáy ao và xung quanh ao để diệt khuẩn và điều chỉnh độ pH, liều lượng sử dụng: 10-15kg/100m2. Sau đó phơi nắng đáy ao khoảng 3-4 ngày.

- Lấy nước: Lần đầu chỉ lấy nước ở mức 0,4-0,5cm, sau đó bón phân rồi lấy đủ nước. Lưu ý: nước phải chảy qua lưới lọc để ngăn cá tạp và địch hại.

          - Bón phân cho ao: Sau khi lấy nước lần đầu, tiến hành bón phân để gây màu nước và tạo nguồn thức ăn tự nhiên. Có thể bón phân chuồng (2tấn/ ha), cách bón: rải đều phân khắp đáy ao; phân urê (25kg/ha); hoặc phân Diamonium phosphat (50kg/ha), cách bón: hòa tan phân trong nước rồi tưới đều khắp đáy ao.

       - Sau 4-5 ngày bón phân là có thể thả giống.

2. Chọn và thả cá giống        

       - Nên chọn cá giống có kích cỡ càng lớn càng tốt, từ 8-15cm. Cá giống càng lớn thì tỷ lệ hao hụt càng ít. Tốt nhất là lấy cá giống sinh sản nhân tạo ở các trại cá uy tín, hạn chế lấy cá từ nguồn khai thác tự nhiên.

       - Chọn cá giống khỏe mạnh, màu sắc tươi sáng, bơi lội nhanh nhẹn, không bị say sát, không bị dị hình hay dị tật.

       - Mật độ nuôi: nên thả với mật độ thưa, khoảng 2-3con/m2.

       Cách thả cá:

       Nên thả cá lúc trời mát, tốt nhất là vào sáng sớm hoặc chiều tối. Trước khi thả cá xuống ao, nên cân bằng nhiệt độ và độ mặn. Trường hợp cá giống đựng trong bọc nilon, thì phải ngâm bọc cá trong nước ao khoảng 10-15 phút để nhiệt độ cân bằng với nhiệt độ nước ao, sau đó mới mở bọc và thả cá ra từ từ. Trường hợp cá giống đựng trong thùng hoặc can nhựa…thì trước khi cho cá vào bể, phải cho chúng qua một cái chậu lớn, từ từ thêm nước ao vào chậu để chúng thích nghi dần với điều kiện mới, sau khoảng 15 phút mới thả cá vào ao. Tuyệt đối không cho cá vào ao một cách đột ngột hoặc đứng trên bờ đổ cá xuống ao vì sẽ làm cho cá dễ bị sốc và chết.

       3. Cho ăn và chăm sóc

       a. Thức ăn

       - Nhiều người dùng thức ăn là cá rô phi: thả cá rô phi (5000-10000 con/ha) trước khi thả cá mú 1 tháng. Khi thả cá mú vào ao thì chúng có thức ăn ngay.

       - Ngoài ra cũng có thể cho ăn bằng các loại cá tạp tươi cắt nhỏ như cá cơm, cá trích, cá nục, cá liệt…

       b. Cách cho ăn

          - Để cá dễ ăn và dễ quản lý thức ăn, nên cho thức ăn vào sàn và đặt vào nhiều vịu trí trong ao cho cá ăn, nên đặt sàn ở 4 góc ao và giữa ao, sàn cách mặt nước khoảng 0,5-0,6m.

          - Thức ăn của cá (các loại cá tạp) phải được rửa sạch, cắt thành từng miếng nhỏ vừa với cỡ miệng cá ăn.

          - Mỗi ngày cho ăn hai lần, vào buổi sáng (7 giờ) và chiều mát (17 giờ); khẩu phần ăn hằng ngày bằng 7-10% tổng trọng lượng có trong ao (cứ 100 kg cá thì cho 7-10kg thức ăn), và giảm dần theo sự tăng trọng của cá. Khi cá đạt 200g/con trở lên, thì cho ăn ngày một lần và khẩu phần ăn giảm xuống còn 5%.

          - Nên cho cá ăn đúng giờ và cho ăn từ từ.

- Định kỳ trộn Vitamin C và Premix khoáng vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng bệnh cho cá. Lượng Vitamin C và Premix chiếm khoảng 2% lượng thức ăn.

c. Chăm sóc

       - Thường xuyên theo dõi cá ăn để đánh giá được mức ăn của chúng mà điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp tránh tình trạng thiếu hoặc thừa. Thiếu thức ăn thì cá chậm lớn, thừa thức ăn thì sẽ gây ô nhiễm nước và ảnh hưởng đến sức khỏe của cá.

       - Duy trì màu xanh nước ao bằng cách định kỳ bón thêm phân chuồng. Khoảng 15 ngày bón 1 lần, liều lượng: 10-15kg/100 m2 ao.

       - Định kỳ (1 tuần 2 lần) thay nước vào ao, mỗi lần thay khoảng 20-40% lượng nước ao, tùy theo chất lượng ao. Khi thấy nước có màu xanh quá đậm, màu xám hay có mùi hôi do tảo hoặc thức ăn phân hủy thì phải thay nước ngay. Có thể dùng nước thủy triều hoặc nước bơm từ ao chứa để thay. Khi thay nước, nên xả phần nước ở đáy rồi bơm nước mới vào. Nước dẫn vào ao phải qua lưới chắn để ngăn cá tạp và địch hại.

       - Thường xuyên kiểm tra các yếu tố chất lượng nước như nhiệt độ, độ mặn, độ pH…, và phải giữ cho các chỉ số này luôn ổn định.

       - Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, nếu thấy có dấu hiệu bất thường thì phải kiểm tra ngay để xử lý kịp thời.

       - Thường xuyên kiểm tra bờ ao, cống rãnh để khắc phục kịp thời khi bị sạc lở, rò rỉ.

       - Hàng tuần lọc và phân đàn kích cỡ cá để tránh tình trạng cá lớn ăn cá bé đồng thời tăng không gian sống cho chúng.

       4. Thu hoạch

       Sau 6-10 tháng nuôi (tùy theo kích cỡ của cá giống) là có thể thu hoạch cá thịt, kích cỡ cá thường phẩm từ 0,6-1kg/con. Có thể thu tỉa những con cá lớn hoặc thu hoạch toàn bộ để lấy ao nuôi vụ khác.

       Trước khi thu hoạch 2 giờ, nên khuấy mạnh nước để tránh trường hợp cơ của cá bị cứng. Đặt một lồng lưới trong ao để giữ tạm cá. Chuẩn bị các thau, chậu máy sục khí để đựng và bảo quản cá.

       Thu hoạch toàn bộ: Tháo bớt một lượng nước ao, dùng lưới đánh bắt vài lần, sau đó tháo cạn nước và bắt toàn bộ. Nên thu hoạch vào lúc trời mát để cá ít bị mệt. Cá sau khi thu hoạch thì cho vào các dụng cụ chứa để rửa sạch bùn và xả bớt chất thải, sau đó chuyển đến nơi tiêu thụ. Khi phải nhốt cá trong các dụng cụ chứa quá lâu thì cần phải sục khí để chúng không bị ngợp.

IV. Phòng và điều trị bệnh

       1. Nguyên nhân phát sinh bệnh

Bệnh của cá thường phát sinh do các nguyên nhân sau:

- Nguồn nước chứa mầm bệnh hoặc có chất lượng không đảm bảo.

- Khâu cải tạo ao, xử lý lồng không kỹ, không tiêu diệt hết mầm bệnh.

- Thức ăn không sạch sẽ hay bị ôi thiu.                           

- Hàm lượng dinh dưỡng không đảm bảo dẫn đến cá gầy yếu và mất sức đề kháng.

- Cá giống mang mầm bệnh, không khỏe mạnh hoặc bị trầy xước, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh.

- Nuôi với mật độ dày.

- Thời tiết thay đổi đột ngột làm cho môi trường nước thay đổi và ảnh hưởng đến sức khỏe của cá.

       2. Phòng bệnh

Việc phòng bệnh và điều trị bệnh cho cá nói chung và cá mú nói riêng thường rất khó khăn và không đạt hiệu quả cao như đối với gia súc, gia cầm. Khi cá bị bệnh, không thể bắt từng con để chữa trị, mà phải xử lý cho cả ao và sử dụng thuốc cho cả đàn. Vì thế nên khó có thể dùng liều lượng thuốc cho chính xác, thường gây lãng phí lớn. Một số loại thuốc còn mất tác dụng do ảnh hưởng bởi độ pH của nước.

       Việc sử dụng thuốc điều trị bệnh cho cá với liều lượng lớn và lâu dài còn gây hại cho sức khỏe con người và môi trường. Do đó, vấn đề phòng bệnh là cực kỳ quan trọng, tránh dùng thuốc càng nhiều càng tốt. Phòng bệnh tốt sẽ giúp cá khỏe mạnh, phát triển nhanh, tránh được bệnh tật và mang lại lợi nhuận cao.

       Sau đây là một số biện pháp phòng bệnh cho cá mú:

       - Trước khi thả cá, cần xử lý ao, lồng thật kỹ. Đối với ao đất cần phải tát cạn, vét bùn, rải vôi bột để diệt mầm bệnh. Đối với lồng thì phải tẩy rửa sạch sẽ, phun xịt nước vôi để diệt mầm bệnh. Sau đó phơi nắng 2 đến 3 ngày rồi mới đưa vào sử dụng.

       - Chọn giống cá khỏe mạnh không mang mầm bệnh, không bị sây sát. Nên tắm nước ngọt cho các trước khi thả xuống ao. Phải cân bằng nhiệt độ và độ mặn trước khi thả cá.

       - Các loại thức ăn phải được rửa sạch, nhất là thức ăn tươi sống. Không dùng thức ăn ôi thiu, mốc meo. Thức ăn dư thừa nên bỏ, không sử dụng cho ngày hôm sau.

       - Các dụng cụ sử dụng trong quá trình nuôi cá như chậu, vợt…phải được sát trùng rồi mới đưa vào sử dụng.

       - Định kỳ thay nước ao để giữ cho môi trường nước không bị ô nhiễm. Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường nước, khi thấy nước bị ô nhiễm thì phaỏi tiến hành thay nước ngay.

       - Thường xuyên di chuyển lồng đến nơi có môi trường nước trong sạch, vì lâu ngày nước xung quanh lồng có thể bị ô nhiễm.

       - Định kỳ dùng hóa chất xử lý nước ao, đáy ao và tẩy mầm bệnh. Treo những bó lá xoan ở đều bè, đầu cống để góp phần diệt nấm, vi khuẩn và ký sinh trùng.

       - Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, nhất là lúc cho ăn, để sớm phát hiện bệnh và có cách điều trị kịp thời. Khi thấy cá có biểu hiện khác thường như: ăn ít, bôi lội chậm chạp thì phải kiểm tra chất lượng nước, kiểm tra cá và chuẩn đoán bệnh để có cách điều trị phù hợp.

       - Định kỳ trộn Vitamin C, Premix khoáng và men tiêu hóa vào thức ăn, để giúp cá tăng cường sức đề kháng bệnh.

       - Với lồng cá, sau mỗi đợt nuôi, phải tháo lưới ra vệ sinh sạch sẽ, sau đó ráp vào lại để nuôi vụ khác. Vệ sinh lưới: giặt sạch bằng nước ngọt và gỡ bỏ hết rong rêu, ngâm trong dung dịch sulfate đồng (1kg sulfate đồng/100 lít nước) trong vài ngày để loại mầm bệnh, sau đó rửa lại bằng nước ngọt.

       3. Điều trị các bệnh thường gặp

       3.1. Bệnh đốm đỏ

       a) Tác nhân gây bệnh

       Bệnh do các vi khuẩn thuộc nhóm Pseudomonas (Pseudomonas flourescens, P.anguilliseptica, P.chlororaphis) gây ra. Bệnh dễ phát sinh trong các trường hợp: hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp, cá thiếu dinh dưỡng và nuôi với mật độ dày.

       b) Triệu chứng

       Cá bị bệnh thường có triệu chứng: cơ thể xuất hiện nhiều đốm đỏ rỉ máu và tiết ra nhiều chất nhờn. Gốc vây ngực, vây lưng, đuôi có nhiều đốm đỏ, lở loét. Hậu môn sưng to. Khi bệnh nặng thì cá rụng vảy và chết sau đó.

       c) Phòng bệnh

       - Giảm mật độ nuôi: Duy trì chất lượng nước ao, không để nước bị ô nhiễm.

       - Định kỳ tắm cá bằng dung dịch KMnO4 3-5ppm. Dùng các loại hóa chất diệt khuẩn và xử lý ao. Định kỳ trộn Vitamin C và Premix khoáng vào thức ăn để giúp cá tăng cường sức đề kháng bệnh.

       d) Điều trị

       Có thể điều trị bằng một trong các biện pháp sau:

       - Tắm cá bằng dung dịch Oxytetracyline (liều lượng 10g/m3 nước) từ 5-10 phút. Điều trị liên tục trong 3 ngày.

Xem thêm


NT-KỸ THUẬT NUÔI CÁ MÚ TRONG LỒNG

Để nuôi cá mú một cách hiệu quả, hạn chế dịch bệnh xảy ra, đem lại hiệu quả kinh tế, người nuôi cần tuân thủ các biện pháp kỹ thuật...