NT-Kỹ thuật nuôi vẹm vỏ xanh thương phẩm

2018-01-18 14:43:23

Đặc điểm sinh học của vẹm vỏ xanh

1. Đặc điểm hình thái:

Vẹm vỏ xanh (Perna viridis Linnaeus. 1758) là loài động vật nhuyễn thể hai mảnh vó.

Vỏ Vẹm khi cón non có mau xanh, lúc trưởng thành vỏ có màu nâu đen. Mặt trong của vỏ màu trắng óng ánh.

Cả thể lớn có chiếu dài vỏ 150mm. chiéu rộng 40mm. chiều cao hai mảnh vỏ 65mm.

2. Phân bố

Vẹm vỏ xanh phân bố từ tuyến hạ triều đến nơi có độ sâu trên 10m nước. Vẹm sống trong vùng nước có độ mặn dao động từ 20 – 30 o/oo , chất đảy là đá, sỏi, san hô…. Vẹm tiết ra tơ chân để bám chặt vào các vật cứng dưới đáy.

Ở Việt Nam, vẹm vỏ xanh phân bố ở vùng triều các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Binh, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Khánh Hoà, Bình Thuận, Phú Quốc và Kiên Giang.

3. Sinh trưởng và sinh sản:

Là loài sinh trướng chậm, sau 1.5-2 năm chiều dài vỏ mới đạt đến 80 – 100mm.

Thức ăn của Vẹm vỏ xanh là các loài thực vật phù du và vật chất có kích thước nhỏ lơ lửng trong nước biển. Nuôi Vẹm vỏ xanh không phải cho ăn nên giảm được rất nhiều chi phi đầu vào.

Khi đạt được độ dài vỏ từ 80mm trở lên Vẹm bắt đấu sinh sản. Ấu trùng Vẹm trôi nổi trong nước và qua nhiều lần biến thái thành Vẹm giống và sống bám váo các vật cứng trong nước. Ở các vùng nước chảy quẩn xung quanh vùng nuôi Vẹm có các rạn đá ngầm, vào mùa sinh sản thường thấy có vẹm con bám vào đá.

Ở phía Bắc. Vẹm đẻ trứng vào 2 vụ chính: vụ đầu năm từ tháng 3 đến tháng 5. Vụ cuối năm từ tháng 9 đến tháng 10.

Vẹm cho thịt khá thơm ngon và giàu dinh dưỡng. Ngoài ra vỏ Vẹm có tầng ngọc dày, có thể dùng để chế biến một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ.

Vẹm vỏ xanh khi nuôi ghép với các đối tượng khác trong các ao đầm, lồng bè vùng nước mặn thi Vẹm sẽ ăn tảo phù du góp phần giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môl trường do tảo sinh ra.

I. Kỹ thuật nuôi Vẹm vỏ xanh thương phẩm

1. Các hình thức nuôi:

Xin giới thiệu hai hình thức nuôi chủ yếu sau đây:

• Nuôi dây treo vào bè hoăc vào các giàn, cọc, giàn phao (gọi tắt là Nuôi dây treo).

• Nuôi trên các cọc đóng cố định ở mặt bãi triều (gọi tắt là Nuôi cọc).

2. Thuật ngữ và chữ viết tắt:

– Chiếu dài vỏ: Khoảng cách từ mút đầu đến mút cuối của vỏ, tính bằng mm hoặc cm.

– Chiểu rộng vỏ: Khoáng cách lớn nhất của chiểu ngang vỏ, tính bằng mm hoặc cm.

– Chiều cao 2 mành vỏ: Khoảng cách 2 đỉnh của 2 mảnh vỏ khi khép lại.

– Mép sóng: Mép sóng hay “đường bờ” là đường ngấn nước với biên độ thuỷ triều ở mức trung bình.

– Mặt 0 hải đồ: Mặt nước ở mức thuỷ triều ròng nhất có thể xẩy ra. Trong bảng thuỷ triều ở cột “nước ròng” và “nước lớn” trong đó có cột “độ cao m”. đó là cột dự báo mức nước ròng hoặc lớn so với mặt 0 hải đồ của từng ngày khác nhau.

– Tơ chân: Các sợi nhỏ màu đen do Vẹm tiết ra để bám vào các giá thể.

– Vật bám hoặc giá thể: Các vật thể cứng như đá sỏi, gỗ, sợi, bê tông để cho tơ chân của Vẹm có thể bám vào.  

– S °/oo: Độ muối/ độ mặn của nước.

A. Nuôi dây treo

Nuôi trên giàn và trên bãi đá ngầm

1. Lựa chọn địa điểm

Vùng được lựa chọn làm nơi nuôi Vẹm vỏ xanh theo hình thức dây treo phai có các điéu kiện sau:

– Độ mặn của nước chỉ dao động từ 18o/oo , đến 32 o/oo (kể cả trong mùa mưa).

– Dòng chảy từ 0,2 m/s – 0.5 m/s.

– Độ trong: từ 2m trở lên.

– Độ sâu: từ + 0.5m xuống – 1m so với mặt 0 Hải đổ (tương đương thấp hơn so với mép sóng từ 4m – 5m).

2. Vật liệu:

– Vải màn hoặc lưới cước có mắt lưới nhỏ tương tự mắt vải màn hoặc ni-lon mỏng.

– Dây làm vật bám: Dây ni-lon đường kính = 2 – 3cm.

– Dây treo: Dây ni-lon  đường kính = 1cm.

– Cọc làm giàn: Cọc gỗ đường kính = 10 – 15cm, dài 2 – 2.5m.

– Cây làm xà treo: Cây gỗ đường kính = 10cm, dài tuỳ cây.

– Dây thép buộc giàn: Dây kẽm 2.5mm.

– Kéo cắt lưới.

– Kim cắt dây sắt.

– Vồ đóng cọc.

– Dao đẽo chân cọc.

– Cưa gỗ.

3. Gia công dụng cụ và giàn treo:

3.1. Túi thả giống:

Trình tự:

– Vải màn hoậc sãm cước được cắt nhỏ và may thành các ống lưới” có đường kính = 4 – 5cm, dài từ 30 – 40cm. Nếu dùng ni-lon thi dán thành các ống tui có kích thước như trên, sau đó dùng kéo cắt thủng túi các lỗ tròn có đường kinh 2 – 3mm. (xem hình 1).

– Cắt dây ni-lon làm vật bám (loại dây đường kính  = 2 – 3cm) thành các đoạn có chiều dài khoảng 50cm.

– Luồn dây làm vật bám vào trong lòng các ống lưới hoặc túi ni-lon sau đó buộc chặt đáy túi vào đầu dây phía dưới. Đầu dây phía trên được buộc gập lại tạo thành khuy để luồn dây treo.

– Cắt dây treo thành các đoạn có độ dài khoảng 1 – 1,5m.

– Luồn một đấu dây treo vào khuy của dây bám và buộc chặt. Đầu dây còn lại dùng để treo vào xà hoặc bè. (xem hình 2).

3.2. Giàn treo:

– Dùng cọc đóng thảng hàng theo chiều vuông góc với dòng chảy của nước. Khoảng cách mỗi cọc từ 1.5 – 2m (làm vào lúc thủy triều ở mức 0 – 0.3m).

– Dùng kim và dây thép buộc chặt các cây xà ngang qua các đầu cọc. Xà treo cách măt bãi khoảng 1 – 2m. (xem hình 3).

4. Kỹ thuật thả giông:

-Giống cỡ 1cm (tương đương hạt Dưa hấu) được cho vào túi. Mỗi túi chứa khoảng 1.000 con.

– Buộc chật miệng tủi vảo dây bám.

– Treo túi lên xà treo hoặc bè. Nếu treo trên bè thi thả túi xuống độ sâu 2.5m – 3.5m. (xem hình 4).

5. Chăm sóc:

– Sau khoảng 5-10 ngày, kiểm tra thấy hấu hết Vẹm đã mọc tơ chân và bám chặt vào dãy ni-lon thi dùng kéo hoặc dao cắt bỏ túi. (xem hình 5 & 6).

– Thường xuyên kiểm tra giàn treo và dây treo, nếu có sự cổ phải được sửa chữa ngay.

– Khi Vẹm lớn lên. nếu thấy mật độ quá dày thi dùng dao nhỏ hoặc kéo cắt tơ chân một số cá thể để tỉa cho chùm vẹm thưa hơn. số cá thể cắt ra lại cho vào túi như khi thả giống để tạo ra những dây treo mới.

Địch hai đối với Vẹm theo hĩnh thức nuôi này là một vài loài cả ân rêu có thể cắn đứt dây treo. Các loài Hà và Sun có thể bám vào cọc và xà làm cho cọc và xà bị gầy. Do vậy phải luôn làm vệ sinh dây treo, cọc vá xà. Một vài loài cua biển cũng có thể ãn thịt Vẹm.

6. Thu hoạch:

Dùng dao hoăc kéo cẳt tơ chân của từng cá thể (không dùng tay bứt ra từng con).

B. Nuôi cọc

1. Chọn địa điểm:

Địa điểm nuôi Vẹm vỏ xanh theo hình thức nuôi cọc cũng được chọn như đối với hình thức nuôi dây treo (Phần 1. Nuôi dây treo).

2. Vật liệu:

– Máng bám giống: Máng xi măng hoặc bể nhựa có quy cách: dài 2 – 3m: rộng 0,5m: cao 0,5m. Có thể tạo ra máng bằng cách dùng gỗ tạp đóng khung máng có quy cách như máng xi măng và trải ni-lon vào trong để chứa nước.

– Dây bám giống: Chão bẹ dừa hoăc chão cói có đường kính = 1,5 – 2cm. dài 2,5 – 3m.

– Cọc: cọc bằng gỗ khô, loại gỗ không có nhựa độc. Chiều dài cọc 2m – 2,5m: 4> = 11 – 15cm.

3. Kỹ thuật cho giống bám vào dây:

Trình tự:

– Đưa nước biển sạch và có độ mặn tương đương độ mặn nơi nuôi vào máng.

– Sục khí.

– Thả giống vào máng.

– Đưa dây bám giống vào đáy máng theo chiếu dài của máng và sợi dây nằm giữa các lớp Vẹm giống ỏ dưới đáy.

– Chờ từ 3 – 5 ngày cho Vẹm mọc tơ chân bám váo dây thì lấy dây chuyển ra bãi nuôi.

4. Quấn dây vào cọc nuôi:

Cọc được đóng vững chắc xuống bâi. Mỗi cọc sẽ được quấn từ 1 – 2 dày đã có giống bám. Quả trình phát triến không những tơ chân của Vẹm chỉ bám vào dây mà còn bám cả vào thản cọc. (xem hình 7).

5. Chăm sóc:


Hoi Dap Nha Nong Voi Chuyen Gia