NT-Kỹ thuật sản xuất giống ốc hương

2018-01-14 10:07:00

I. THIẾT KẾ XÂY DỰNG TRẠI GIỐNG

1.1. Chọn địa điểm xây dựng trại giống

Chọn vị trí xây dựng trại sản xuất giống ốc hương cần đảm bảo các điều kiện sau:

- Có nguồn nước trong sạch, độ mặn ổn định trên 30‰, không bị nhiễm bẩn bởi chất thải công nghiệp, nông nghiệp hoặc chất thải sinh hoạt.

- Có vị trí độc lập, xa khu dân cư.

- Có điều kiện thuận lợi về điện, nước, phương tiện giao thông và các dịch vụ sinh hoạt khác.

- Có khả năng ương nuôi ốc hương giống.

1.2. Thiết kế xây dựng trại giống

Căn cứ vào vị trí và diện tích xây dựng mà tính toán thiết kế trại giống cho phù hợp. Các công trình phải liên hoàn và thuận tiện cho thao tác sản xuất. Hệ thống bể lọc, chứa nước, bể nuôi ốc bố mẹ, bể ương nuôi ấu trùng, bể gây nuôi tảo phải ở vị trí gần nhau, hợp lý và thuận tiện. Phòng thí nghiệm, phòng nuôi giữ giống tảo phải độc lập với trại giống nhưng gần nhau để tiện cho quan sát theo dõi ấu trùng.

1.2.1. Các hạng mục chính cần xây dựng cho trại sản xuất giống ốc hương

- Hệ thống bể gồm: bể lọc, bể chứa, bể ương ấu trùng, bể nuôi tảo, bể ương ốc giống, bể nuôi ốc bố mẹ, bể xử lý nước thải

- Hệ thống nước

- Hệ thống khí

- Hệ thống điện

- Hệ thống gây nuôi thức ăn

- Phòng làm việc và sinh hoạt

- Hệ thống nhà bao che, nhà kho, nhà máy

1.2.2. Một số chỉ số kỹ thuật và tỷ lệ giữa các loại bể

Để đạt công suất 1 triệu giống/đợt sản xuất, hệ thống bể trong trại sản xuất giống ốc hương cần xây dựng có thể tích như sau:

- Bể chứa: 2 x 20 m3

- Bể lọc: 2 x 2 m3

- Bể nuôi ốc bố mẹ: 2 x15 m3

- Bể ương ấu trùng trôi nổi: 10 x 4 m3

- Bể ương ốc giống : 20 x 10 m3

- Bể nuôi cấy tảo: 6 x 2 m3

Các bể nên xây dựng bằng vật liệu xi măng, thành bể láng bóng để thuận tiện cho vệ sinh. Đối với bể ương ấu trùng nên thiết kế bể có kích thước chiều dài rộng và cao tương ứng 2 x 2 x 1,1 m. Thể tích sử dụng là 4 m3. Bể ương giống nên có kích thước về chiều dài, chiều rộng chiều cao tương ứng là 6 x 2,5 x 0,7 m. Cao trình đáy và lỗ thóat nước của bể phải được thiết kế sao cho có thể xả cạn toàn bộ nước trong bể nuôi khi cần thiết.

c. Một số yêu cầu khác

- Công trình phải được xây dựng vững chắc, không bị nứt và rò rỉ. Bể lọc và chứa nước nên có cao trình cao hơn bể ương, bể tảo để nước có thể tự chảy, nếu cao trình bằng nhau phải sử dụng hệ thống bơm luân chuyển.

- Bể nuôi tảo và phòng nuôi giữ giống tảo được xây dựng ở vị trí thông thoáng, có nắng và xa hệ thống nước thải.

- Hệ thống bể ương ở vị trí sạch sẽ, thông khí.

1.3. Các trang thiết bị cần thiết trong trại giống

a. Hệ thống nước

Hệ thống cung cấp nước trong trại giống gồm: máy bơm, đường ống, hệ thống lọc nước.

Máy bơm và đường ống

Tuỳ theo công suất trại giống và khối lượng nước cần sử dụng hàng ngày mà lựa chọn bơm có mã lực lớn hoặc nhỏ, thông thường sử dụng bơm từ 1-2 HV. Nên sử dụng các loại máy bơm có cấu tạo bằng các vật liệu không gỉ như nhựa, thép không gỉ.

Bơm được chọn đặt ở vị trí thích hợp để khả năng hút và đẩy đạt được tốc độ cao nhất, đảm bảo đủ lượng nước cung cấp cho trại giống.

Tuỳ theo công suất bơm để lựa chọn kích cỡ đường ống cho phù hợp. Có thể sử dụng đường ống sắt hoặc ống nhựa. Vùng biển có sóng gió lớn, đường ống được chôn đóng cẩn thận để hạn chế sự cố về đường ống do sóng gió gây nên.

Cần thiết kế van xả nước tồn đọng trong ống trước khi bơm nước lên bể để tránh sự han gỉ của đường ống làm ô nhiễm nước. Tốt nhất là sử dụng đường ống nhựa để cung cấp nước và chỉ nên sử dụng đường ống sắt ở những nơi cần thiết.

Thiết kế đường ống dẫn chính từ bể chứa vào khu vực ương nuôi và khu làm tảo sao cho việc lấy nước vào bể thuận tiện nhất. Mỗi bể có một van cấp nước vào. Đường ống cấp nước chính và các nhánh phải phù hợp để nước được phân phối đều cho toàn bộ khu vực trại.

Hệ thống lọc cát

Lọc cát là một thiết bị lọc cơ học, sử dụng lực tĩnh điện để hấp thu các vật thể lơ lửng trong nước và tách chúng ra khỏi nước.

Bể lọc cát có tổng diện tích lọc (m2) bằng 1/30-1/40 tổng thể tích bể ương (m3), cao từ 1,5-2m. Bể lọc được chia làm 2 hoặc nhiều ngăn lọc để thuận tiện cho sử dụng và vệ sinh xử lý bể. Bể lọc có cao trình cao hơn bể chứa, bể ương và bể tảo để nước có thể tự chảy trực tiếp vào bể.

Cấu tạo của tầng lọc cát theo thứ tự từ trên xuống dưới như sau:

Tầng 1: 30-40 cm: khoảng chứa nước

Tầng 2: 15-30 cm: cát mịn Þ= 0,1-0,2 mm

Tầng 3: 20 cm : cát mịn Þ= 0,2-0,3 mm

Tâng 4: 10 cm: cát thô Þ= 0,4-0,5 mm

Tầng 5: 5 cm: đá răm nhỏ Þ= 1-2 mm

Tầng 6: 5 cm: đá cuội Þ= 5-10 mm

Tầng 7: 5 cm: đá lớn Þ= 20-30 mm

Tầng 8: 2 cm: tấm đan giữ tầng lọc

Tầng 9: 20 cm: khoảng lưu không chứa nước

Một số điểm lưu ý khi làm bể lọc cát:

- Trước khi làm bể lọc, các vật liệu phải được rửa sạch.

- Giữa các lớp vật liệu phải có lưới ngăn để tránh bị trộn lẫn.

- Trên bề mặt có tấm chắn hoặc bao cát để nước không xối thẳng vào cát tạo thành các hố sâu.

- Ống dẫn nước vào bể lọc đục thành nhiều lỗ và phân chia đều trên bề mặt lọc.

- Ngâm nước tẩy trùng và xả nước kỹ trước khi sử dụng bể.

- Trong quá trình sử dụng kiểm tra bể lọc thường xuyên, hớt lớp bùn bẩn trên bề mặt cát 2-3 ngày/lần. Định kỳ vệ sinh bể lọc.

Hệ thống thoát nước

Mương thoát nước dốc và rút nước hoàn toàn ra bể xử lý nước thải. Xây hố ga kề lỗ thoát nước ở cạnh mỗi bể để tiện thao tác khi chuyển ấu trùng từ bể này sang bể khác. Bề mặt hố ga có nắp đậy để thuận tiện cho di chuyển và thao tác trong sản xuất. Cần xây dựng bể chứa nước thải, không để nước thải ra từ quá trình sản xuất chảy trực tiếp ra biển nhằm hạn chế tình trạng gây ô nhiễm môi trường.

b. Hệ thống khí

Sử dụng máy thổi (air blower) hoặc máy nén khí (compreser) để cung cấp khí cho trại giống. Dùng máy có công suất lớn hoặc sử dụng nhiều máy để đảm bảo cung cấp đủ khí cho toàn bộ hệ thống bể nuôi. Ống dẫn khí và đá bọt được sử dụng để dẫn khí và đưa khí hoà tan vào trong nước cung cấp ô-xy cho ấu trùng và ốc nuôi, tạo dòng chuyển động và lực đẩy để ấu trùng, tảo không bị lắng xuống đáy bể.

c. Hệ thống điện

Điện sử dụng cho trại giống tốt nhất là dùng điện lưới. Những nơi chưa có điện lưới có thể dùng điện máy phát nhưng chi phí tương đối cao. Điện phải đủ công suất cho hoạt động của máy bơm, máy sục khí, đèn chiếu sáng trong trại giống và hệ thống đèn trong phòng tảo. Các công tắc, ổ cắm điện phải đặt ở trên cao, nơi khô ráo để tránh bị ướt do nước mặn làm chập điện hoặc gây điện giật nguy hiểm. Cần có hệ thống đóng ngắt tự động để đảm bảo an toàn cho toàn bộ hệ thống điện trong khu vực trại giống. Ngoài ra cần phải lắp hệ thống chuyển đổi điện giữa điện lưới và điện máy phát để có thể dễ dàng thay đổi khi cần sử dụng máy phát điện.

d. Hệ thống gây nuôi thức ăn

Tảo đơn bào là một trong những loại thức ăn sử dụng chủ yếu cho ấu trùng ốc hương ở giai đoạn sống trôi nổi, là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công trong sản xuất giống nhân tạo. Vật liệu và thiết bị chủ yếu của hệ thống gây nuôi tảo gồm:

+ Phòng phân lập và lưu giữ giống tảo:

Trang thiết bị chủ yếu trong phòng này gồm tủ sấy tiệt trùng, nồi hấp (autoclare), kính hiển vi, tủ lạnh, bếp điện, dụng cụ thuỷ tinh (hộp lồng, bình thuỷ tinh, ống nghiệm, pipet, que cấy, buồng đếm, ...), giá nuôi, đèn huỳnh quang, ...

+ Bể nuôi tảo sinh khối:

Bể composit hoặc bể xây bằng xi măng thể tích 1-2 m3. Mặt trong bể màu trắng (bể composit), láng nhẵn. Đáy dốc nghiêng về lỗ thoát nước. Nước cấp cho bể tảo phải lọc kỹ, xử lý hóa chất và lọc qua ống lọc kích thước 0,5-1 µm để hạn chế các loài tảo tạp.

Che bể bằng vật liệu nhẹ (tôn nhựa, lưới chắn sáng) để tránh ánh sáng mạnh làm tăng nhiệt độ bể nuôi hoặc tránh mưa lớn làm giảm độ mặn và nhiệt độ trong bể dễ gây cho tảo tàn.

+ Thiết bị và hoá chất tẩy trùng:

Các dụng cụ nuôi nhỏ như bình thuỷ tinh, bình tam giác, hộp lồng, que khuấy, ... được rửa sạch và sấy khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 1200C. Bể nuôi tảo được tẩy trùng bằng dung dịch thuốc tím 25 ppm.

II. TUYỂN CHỌN ỐC BỐ MẸ VÀ NUÔI VỖ THÀNH THỤC

2.1. Tiêu chuẩn tuyển chọn ốc bố mẹ

Ốc bố mẹ được chọn ngẫu nhiên từ nguồn khai thác tự nhiên có kích thước chiều dài vỏ trên 50 mm, có màu sắc vỏ tươi sáng, khoẻ mạnh. Không cần thiết phải xác định chọn lựa tỉ lệ đực cái.

2.2. Nuôi vỗ thành thục ốc bố mẹ

Bể nuôi ốc bố mẹ có kích thước về chiều dài, chiều rộng chiều cao tương ứng là 6 x 2,5 x 1 m. Một nửa diện tích đáy bể được phủ một lớp cát thô dày 3-4 cm. Cát quá ít sẽ không đủ cho ốc vùi mình. Ngược lại cát quá nhiều sẽ gây khó khăn trong quá trình vệ sinh và quản lý môi trường nuôi.

Mật độ thả nuôi 45-50 con/m2 (loại 15-25 con/kg). Cho ăn các loại thức ăn tươi như cá, ghẹ, mực, sò, trai. Lượng cho ăn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của ốc, khoảng 5-7 % khối lượng ốc nuôi. Cho ăn một lần/ ngày. Thay nước 1 lần/ ngày từ 80-100 % lượng nước. Làm sạch đáy, thay cát mới hàng tuần.

2.3. Thu và ấp trứng

Hoạt động đẻ trứng của ốc thường diễn ra vào ban đêm. Để tránh nhiễm khuẩn cho trứng, các bọc trứng ốc hương được đẻ vào ban đêm cần được thu ngay vào sáng sớm hôm sau. Rửa sạch bọc trứng và ngâm các bọc trứng trong dung dịch thuốc tím 5-10 ppm trong thời gian 1-2 phút, loại bỏ các bọc trứng bị vỡ hoặc có màu trắng đục, rửa sạch bằng nước mặn trước khi ấp. Bọc trứng được xếp trên đáy của khay nhựa với mật độ 1.200-1.500 bọc/4-5 dm2 diện tích khay. Trứng thường dễ bị ung nếu ấp ở mật độ quá dày. Các khay nhựa này được đặt trong bể ấp có thể tích 0,5-1 m3. Trong quá trình ấp, sục khí đầy đủ, thay nước và loại bỏ các bọc trứng bị ung hàng ngày.

III. KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG

3.1. Tiêu chuẩn môi trường nước ương nuôi ấu trùng

Nước sử dụng cho ương nuôi ấu trùng phải được lọc kỹ qua bể lọc. Trước khi lấy vào bể nước được lọc qua ống lọc có kích thước lỗ lọc 0,5-1 µm. Bể ương ấu trùng cần duy trì pH từ 7,5-8. Ôxy hòa tan >5 mg/l. Độ muối từ 30-35 ‰. Nhiệt độ nước 27-30 độ C.

3.2. Quản lý chăm sóc ấu trùng nổi (Veliger)

a. Mật độ nuôi

Cũng như các loài thuỷ sản khác, khi nuôi ốc hương ở mật độ quá cao ấu trùng dễ bị nhiễm bệnh do khó điều khiển sự cân bằng sinh thái trong môi trường bể ương. Tuy nhiên cũng không nên ương ở mật độ quá thấp sẽ gây lãng phí do không tận dụng hết công suất bể. Mật độ thích hợp cho ương ấu trùng ốc hương ở giai đoạn bơi từ 80 – 100 con/lít. Cũng có thể nuôi ở mật độ cao hơn ở tuần đầu sau đó san thưa đảm bảo mật độ thích hợp cho ấu trùng ở cuối giai đoạn bơi và chuẩn bị biến thái sang giai đoạn bò.

b. Thay nước

Trong môi trường bể ương, bên cạnh các sản phẩm tiêu hoá, ốc còn tiết ra dịch nhầy làm ô nhiễm môi trường nuôi. Mặt khác, ấu trùng ốc hương rất mẫn cảm với những thay đổi nhỏ của yếu tố môi trường, vì vậy việc thay nước phải đảm bảo tính trong sạch và ổn định môi trường. Thay nước hai ngày một lần vào buổi sáng, lượng nước thay từ 40-60 % thể tích nước trong bể. Trong quá trình thay nước đề phòng ấu trùng bị chết do ép vào lưới thay nước.

c. Thức ăn và cho ăn

Ấu trùng bơi Veliger bắt mồi bằng phương pháp lọc thụ động. Vì vậy thức ăn cung cấp cho chúng phải có kích thước nhỏ và có khả năng trôi nổi trong nước. Các loại tảo đơn bào như Chaetoceros muelleri, Chlorella sp, Nannochloropsis, Platymonas và một số loại thức ăn công nghiệp dạng bột mịn đang được sử dụng phổ biến cho ương nuôi tôm sú giống như No, Fripack, Lansy, 505 ... là thức ăn thích hợp cho ấu trùng ốc hương. Lượng thức ăn cho vào bể tùy thuộc loại thức ăn sử dụng. Nếu dùng chuyên thức ăn tảo, mật độ tảo duy trì trong bể ương từ 3.000-10.000 tb/ml tuỳ theo giai đoạn và khả năng dinh dưỡng của ấu trùng. Nếu sử dụng chuyên thức ăn công nghiệp lượng thức ăn cần cung cấp khoảng từ 1–2 g x 4 lần/ngày cho 400.000 ấu trùng. Kết quả nghiên cho thấy việc sử dụng phối hợp tảo tươi đơn bào và thức ăn công nghiệp cho hiệu quả sản xuất cao hơn sử dụng đơn lẻ hai loại thức ăn này.

Quan sát hoạt động và dinh dưỡng của ấu trùng hàng ngày qua kính hiển vi. Điều chỉnh lượng thức ăn thông qua lượng thức ăn có trong ruột ấu trùng. Đo kích thước ấu trùng để theo dõi sự sinh trưởng.

3.3. Quản lý chăm sóc ấu trùng bò và ốc con

a. Chuẩn bị cát, thả đáy

Ở thời kỳ biến thái chuyển từ giai đoạn bơi sang giai đoạn bò ấu trùng cần có nền đáy để vùi mình. Vì vậy trong bể ương nuôi cần tạo ra môi trường đáy phù hợp với đặc tính sinh thái tự nhiên của ốc.

Cát sạch được sử dụng làm chất đáy cho ốc con vùi mình. Lượng cát cho vào bể cần trải kín đáy bể với lớp mỏng 1-1,5 mm trên nền đáy bể. Trước khi đưa vào bể ương, cát phải được sàng qua lưới để loại bỏ cát lớn, đá sỏi; xử lý cát bằng một số hóa chất như thuốc tím 100 ppm, formol 50 ppm để khử trùng và rửa sạch trước khi đưa vào bể ương.

b. Quản lý, chăm sóc

Kiểm tra số lượng ấu trùng biến thái chuyển thành ốc con. Xác định và kiểm tra mật độ ấu trùng còn trôi nổi trong nước để cung cấp thức ăn cho phù hợp.

Trong thời điểm ốc đang chuyển giai đoạn, cắt giảm thức ăn tảo tươi và thức ăn công nghiệp, bổ xung thịt tôm, ghẹ, cá băm nhỏ vào bể cho ấu trùng bò và ốc con. Khi đàn ốc đã chuyển hoàn toàn sang giai đoạn bò, thức ăn sử dụng là thịt tôm, ghẹ hoặc cá băm nhỏ với lượng 50-80 gam/ lần cho 100.000-150.000 ốc giống. Lượng thức ăn được tăng lên theo nhu cầu khi ốc lớn dần. Cho ăn 2 lần/ ngày (9 h và 15h). Thức ăn được băm nhỏ, rửa sạch trước khi cho vào bể để hạn chế ô nhiễm. Theo dõi sự tăng trưởng, độ no, tỉ lệ biến thái của ấu trùng nổi, ấu trùng bò và ốc con để quyết định việc thay nước và cho ăn hàng ngày. Định lượng số lượng ốc con trong mỗi bể khi thu hoạch.

3.4. Kỹ thuật nuôi sinh khối tảo làm thức ăn cho ấu trùng

a. Nguồn giống

Giống tảo được lấy từ hai nguồn: nhập nội hoặc phân lập. Tảo giống phải được nuôi giữ trong điều kiện cách ly vô trùng để tránh nhiễm tạp. Có 2 phương pháp phân lập tảo:

Phương pháp pha loãng: Dịch tảo gốc được pha loãng bằng nước nuôi cấy sao cho chỉ có một hoặc vài tế bào trong một ống nghiệm. Chọn ống nghiệm có tảo cần phân lập tốt nhất và làm lặp lại nhiều lần cho đến khi tảo giống được thuần nhất hoàn toàn.

Phương pháp phân lập trên môi trường thạch: Cấy tảo trên môi trường thạch 1,5%, sau đó để các đĩa thạch dưới ánh sáng 2 đèn neon, khi thấy các khuẩn lạc xuất hiện thì kiểm tra bằng kính hiển vi để chọn khuẩn lạc tốt nhất và chuyển sang môi trường lỏng. Phương pháp này rất có hiệu quả đối với các loài tảo xanh.

b. Môi trường dinh dưỡng

Sử dụng môi trường nuôi khác nhau đối với từng nhóm tảo khác nhau. Các lòai tảo đơn bào là thức ăn thích hợp cho ấu trùng ốc hương thuộc 3 nhóm tảo chính là tảo xanh, tảo khuê và tảo vàng.

*Ghi chú: Tảo xanh bao gồm các loài tảo Nannochloris atomus, Chlorella sp, Dunaliella salina, Platymonas sp, Tetraselmis suecica, Heterogloea sp, Nannochloropsis oculata.

Tảo khuê: Bao gồm các loài tảo Chaetoceros calcitrans, Chaetoceros gracilis, Chaetoceros muelleri, Navicula sp.

Tảo vàng: Isochrysis galbana

c. Điều kiện nuôi

Trong phòng: Tảo được nuôi trong ống nghiệm, bình tam giác (125 ml, 500 ml, 1000 ml), bình 10 l, 20 l dưới ánh sáng đèn neon 40W, nhiệt độ: 24-270C, S‰ 27-32 ‰

Ngoài trời: Tảo được nuôi trong thùng nhựa trắng 160 l, bể ciment 1m3, dưới ánh sáng và nhiệt độ tự nhiên.

V. KỸ THUẬT ƯƠNG ỐC GIỐNG

4.1. Chuẩn bị bể ương

Bể ương được cọ rửa, tẩy trùng sạch sẽ. Dùng ống nhựa đường kính 1-1,2 cm dán xung quanh thành bể nhằm ngăn không cho ốc bò lên thành bể. Khoảng cách từ mép ống nhựa đến đáy bể là 30 cm. Lấy nước vào bể đến gần mép ống nhựa. Bố trí sục khí đều trong bể. Khí điều chỉnh vừa đủ, không quá mạnh hay quá yếu. Đáy bể được phủ lớp cát mịn dầy 1,5-3,0 mm.

4.2. Kỹ thuật ương ốc giống

a. Lọc phân loại giống và mật độ ương

Trong quá trình ương nuôi ốc hương giống, sau khoảng thời gian nhất định tiến hành lọc phân loại và chuyển ốc sang ương trong bể mới. Đây là biện pháp kỹ thuật một mặt tạo ra những đàn ốc đồng đều về kích thước, hạn chế hiện tượng cạnh tranh thức ăn, mặt khác giúp làm sạch môi trường nuôi.

b. Quản lý chăm sóc

Cho ăn : Thức ăn cho ốc là thịt tôm, ghẹ, nhuyễn thể hai vỏ, mực hoặc cá. Cho ăn vừa đủ, không dư, 2 lần/ ngày. Đối với ốc giai đoạn nhỏ 25.000-15.000 con/kg thức ăn nên được băm nhỏ, rửa sạch trước khi cho ăn. Lượng thức ăn cung cấp tùy thuộc vào loại thức ăn và giai đoạn phát triển của ốc (khoảng 10-15 % trọng lượng ốc).

Thay nước và vệ sinh đáy: Thay 100% nước hàng ngày, kết hợp với cho ăn vừa đủ, vớt sạch thức ăn thừa. Sục rửa cát trong quá trình thay nước. Thay cát đáy trong mỗi lần lọc phân loại ốc.

4.3. Thu hoạch ốc giống

Khi ốc giống đạt kích thước từ 15 –20 mm, khối lượng 5.000-7.000 con/kg thì thu hoạch chuyển ra nuôi thương phẩm trong ao, đăng hoặc lồng trên biển. Kỹ thuật thu hoạch cũng tương tự như kỹ thuật lọc và phân loại ốc.

Rút cạn nước bể ương, dùng miếng nhựa xúc cả ốc và cát sàng qua các cỡ mắt lưới khác nhau để phân loại ốc. Cân tổng số ốc và cân mẫu ốc mỗi loại. Xác định số lượng ốc để thả nuôi cho đúng mật độ

4.4. Vận chuyển ốc giống

- Dụng cụ vận chuyển: thùng xốp, tấm mút nhẹ cho vận chuyển gần; bao nilon, dây thun, bình ô xy cho vận chuyển xa.

- Phương pháp vận chuyển:

+ Vận chuyển xa: dùng bao nilon bơm ôxy.

Bao nilon kích thước 0,5 x 1,2 m, cho nước biển sạch vào 1/3 thể tích bao. Mỗi bao đóng từ 20.000 - 40.000 ốc giống cỡ 5000 - 7000 con/kg.

+ Vận chuyển gần: dùng thùng xốp, làm lạnh và giữ ẩm.

Thùng xốp kích thước 30 x 50 x 30 cm, đá làm lạnh, bao nilon.

Phương pháp: Làm lạnh nước biển bằng đá tới 25 - 26oC. Ốc giống được nhúng ngâm trong nước lạnh khoảng 5 phút trước khi cho vào thùng xốp. Ốc bỏ trong bao ni-lon đặt vào thùng xốp, khoảng 2/3 thùng. Bơm ôxy vào bao ni-lon, cột chặt. Đóng chặt nắp thùng. Dùng băng keo dán kín. Trường hợp trời nóng cần bỏ thêm vài cục đá trong thùng để duy trì nhiệt độ trong quá trình vận chuyển.

Mỗi thùng vận chuyển 10 kg ốc giống. Chú ý không làm quá lạnh ốc khó hồi phục sau khi vận chuyển. Khi vận chuyển đến nơi, cần mở nắp thùng và để ốc thích nghi dần với nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước, không thả ngay để tránh hiện tượng gây sốc nhiệt cho ốc.

V. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ỐC HƯƠNG

5.1. Các tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh chủ yếu ở ốc hương gồm năm nhóm sau đây:

+ Vi khuẩn: Đây là nhóm nguy cơ cao với tần suất xảy ra thường xuyên.

Khác với tôm sú, ốc hương (đặc biệt ở giai đoạn ấu trùng) rất nhạy cảm với thuốc kháng sinh, hầu hết chúng đều chết khi sử dụng liều lượng cao (>5ppm). Có thể dùng A30 (2-3 ppm) cho trực tiếp vào bể ương nuôi ấu trùng nhằm ngăn chặn tác hại của một số vi khuẩn.

+ Nấm: Đây cũng là tác nhân gây bệnh chủ yếu cho ấu trùng ốc hương. Kết quả phân lập nấm trên trứng và ấu trùng Veliger đã xác định được 3 giống là Haliphthros, Fusarium, Legenidium. Nấm Fusarium thường được tìm thấy cùng với vi khuẩn V.alginolyticus ở các mẫu ốc bị bệnh. Có thể dùng Nistatine 1 ppm cho trực tiếp vào bể nuôi để hạn chế tác hại của nấm. Sun-fat đồng dùng ở liều lượng nhỏ (0,1-0,2 ppm) cũng có tác dụng hạn chế sự phát triển của nấm.

+ Nguyên sinh động vật: Trong số các nguyên sinh động vật, trùng loa kèn là tác nhân thường gặp nhất trên cả giai đoạn trứng và ấu trùng đặc biệt trong trường hợp nuôi ấu trùng ở mật độ dày và ít thay nước. Trùng loa kèn thường ký sinh trên vỏ, tiêm mao và chân ấu trùng. Ở mật độ thấp, trùng loa kèn gây khó khăn cho hoạt động của ấu trùng, còn ở mức độ nhiễm cao chúng có thể gây chết rải rác hoặc hàng loạt trong các trại sản xuất giống. Hai giống Vorticella và Zoothamnium thường gặp trong các mẫu kiểm tra và thường xuất hiện nhiều hơn trong môi trường nước có độ mặn cao. Mật độ trùng loa kèn tăng theo thời gian nuôi liên quan đến mức độ nhiễm bẩn của nước. Bên cạnh trùng loa kèn còn xuất hiện một số tác nhân khác. Chúng có kích thước nhỏ, không có tiêm mao nhưng chuyển động rất nhanh, kí sinh bên trong ấu trùng với cường độ cảm nhiễm cao. Theo dự đoán đây có thể là những loài thuộc vi bào tử Glugeo ngành Microsporia, bộ Glugeida, họ Glugeidae.

Một loại ký sinh trùng khác thường gặp, nhất là vào mùa mưa là trùng lông. Trùng lông ký sinh ở mang, chân, ống hút và thường gặp ở giai đoạn con non và con trưởng thành. Loại này có hình dạng giống như cầu gai nhưng kích thước rất nhỏ không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Tác nhân này đã được phát hiện với tần suất cao trong ốc nuôi ở thời điểm dịch bệnh gây chết hàng loạt. Shrimp favour với nồng độ 0,5 –1,5 ppm có tác dụng phòng bệnh tốt cho ấu trùng để ngăn chặn sự phát triển của trùng loa kèn trên ấu trùng ốc hương.

+ Giun: gồm có giun đốt, giun tròn và giun đầu móc hình dấu phẩy. Chưa xác định được tên giống loài. Giun đốt có màu đỏ, kích thước chiều dài của con trưởng thành khoảng 1-1,5 cm. Loại giun này thường xuất hiện nhiều trong bể nuôi ấu trùng sử dụng các loài tảo tươi làm thức ăn. Tác hại của chúng chưa rõ ràng. Giun tròn có kích thước khác nhau từ 1 đến vài mm, bám ở trên vỏ ốc nhưng không gây ảnh hưởng nhiều. Giun móc hình dấu phẩy là bọn kí sinh nguy hiểm đối với ấu trùng và ốc giống. Chúng ký sinh ở trên và trong vỏ ốc, chuyển động rất nhanh chọc khuấy các bộ phận cơ quan ốc làm cho ốc yếu dần và chết. Sử dụng dung dịch CuSO4 nồng độ 0,05 và 0,1 ppm có thể loại bỏ hoàn toàn ba loài giun này.

+ Copepoda: thường xuất hiện trong các bể ương ấu trùng sử dụng nhiều thức ăn công nghiệp. Chúng thường cạnh tranh thức ăn, môi trường sống và dùng chủy tấn công vào các bộ phận cơ quan của ốc. Kết quả làm giảm tỉ lệ sống và sinh trưởng của ốc, có thể gây chết hàng loạt nếu mật độ copepoda cao. Chưa có biện pháp phòng trừ hiệu quả ngoại trừ việc chuyển bể để hạn chế số lượng copepoda.

5.2. Hiện tượng ốc chết hàng loạt ở giai đoạn giống và nuôi thương phẩm

Chết hàng loạt là hiện tượng xảy ra phổ biến ở các trại sản xuất giống, ao và lồng nuôi thương phẩm ốc hương trong thời gian cuối năm 2002. Ốc bò lên bề mặt nền đáy bể hoặc lồng nuôi, bỏ ăn và chết rất nhanh sau 1 đến 2 ngày đặc biệt với ốc giai đoạn ương giống. Dấu hiệu kèm theo là vòi lấy thức ăn của ốc lòi ra, sưng tấy. Quan sát kỹ thấy ốc thường giẫy dụa rất nhiều trước khi chết. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng hợp các tác nhân gồm vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng phát triển trong điều kiện môi trường nước bị ô nhiễm là nguyên nhân chính gây chết trực tiếp đối với ốc hương.

Hiện nay vẫn chưa có biện pháp trị bệnh hiệu quả do chưa xác định rõ tác nhân chính. Tuy nhiên vấn đề phòng bệnh cần được chú trọng. Để hạn chế bệnh này, trước hết quản lý môi trường nuôi sạch sẽ là biện pháp cần thiết. Chú trọng đến nguồn giống và chất lượng giống nuôi. Tuyệt đối không nên khai thác giống tự nhiên và vận chuyển từ xa về nuôi vì không đảm bảo sức khoẻ, dễ bị nhiễm khuẩn và chết do vận chuyển, làm lây lan và truyền bệnh. Ngoài ra nên bổ sung một số loại vitamin như C, B1,... vào trong thức ăn để giúp ốc sinh trưởng nhanh, kháng bệnh tốt.

Theo Cổng thông tin điện tử Bộ NN&PTNT


Xem thêm








Cộng Ngay 10.000 Cho 100% Khách Hàng
Hoi Dap Nha Nong Voi Chuyen Gia